Chuyên gia Trường Đại học Thủy lợi nhận định: “Các đập thủy điện phải luôn dự báo các điều kiện cực đoan”

Hiện con số chính xác về số người thiệt mạng và mất tích vẫn chưa được công bố chính thức. Hơn 1.300 hộ gia đình đã bị ảnh hưởng do sự cố vỡ đập Xepian-Xe Nam Noy. (Ảnh: EPA)

Dự án thủy điện XePian XeNamnoy là công trình trọng điểm về phát triển thủy điện của vùng Nam Lào, nằm trên sông Xenamnoy thuộc hai tỉnh Champasack và Attapeu. Vị trí công trình cách dòng chính sông Mê Công ở Campuchia khoảng 200 km và cách biên giới Việt Nam khoảng 650 km.

Công trình được khởi công xây dựng từ năm 2013 và hoàn thành đầu năm 2018 với tổng vốn đầu tư khoảng 1,2 tỷ USD; có tổng dung tích 1,1 tỷ m3, công suất lắp đặt là 410MW. Khi hoàn thành được 90% khối lượng xây dựng, hồ chứa XePian XeNamnoy bắt đầu tích nước từ đầu năm 2018. Cho tới nay ước tính hồ đã tích được khoảng 500 triệu m3. Công trình đã bị vỡ đập phụ có tên là “Saddle dam D”.

Trước khi xảy ra sự cố, mực nước tại trạm Stung Treng (cách công trình 200 km trên dòng chính sông Mê Công ở Campuchia) đo lúc 19h ngày 23/7 là 9,0m; đến 7h ngày 24 tháng 7 là 9,35m, đến 7h ngày 25/7 là 9,6m.

Sau 36h mực nước tại trạm Stung Treng tăng thêm 0,6m. Theo xu thế hiện tại, mực nước tại trạm Stung Treng tăng trung bình khoảng 20 - 30cm/ngày. Như vậy, cho đến hiện nay sự tác động của sự cố hồ chứa đến mực nước trạm Stung Treng là không đáng kể.

Theo tính toán với sự gia tăng dòng chảy trên dòng chính và các dòng nhánh, cùng với lượng nước từ sự cố hồ chứa tại Lào, mực nước tại trạm Stung Treng tiếp tục lên, đến ngày 30/7 có khả năng lên mức 10,5m.

PGS.TS. Triệu Ánh Ngọc chia sẻ ý kiến chuyên môn sau vụ vỡ đập thuỷ điện tại Lào

Trao đổi về hậu quả phía Việt Nam có thể phải gánh sau vụ vỡ đập thủy điện ở Lào, PGS.TS. Triệu Ánh Ngọc, Trưởng Ban Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, Giám đốc Trung tâm tư vấn và Nghiên cứu thực nghiệm, Trường Đại học Thủy lợi cho rằng: “Theo đánh giá và thu thập, dung tích đập thủy điện Xepian Xenamnoy không lớn. Khi đập bị vỡ gây ra lưu lượng rất lớn đổ về hạ lưu. Nhưng phần lớn lượng nước lũ tràn qua các vùng đồng bằng hạ lưu tỉnh Attapeu, Lào gây ngập lụt nghiêm trọng. Phần dòng chảy lũ còn lại đổ xuống hạ lưu và đổ ra dòng chính Mekong cách trạm Kratie khoảng 200km, làm mực nước tại trạm Kraite dâng lên khoảng 10 – 15 cm.

Khi dòng nước này đổ về hạ lưu phía Việt Nam, phần lớn dòng chảy lũ được điều tiết bởi hồ Tonle Sap, và một phần nhỏ còn lại đổ xuống hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, làm mực nước tăng từ 1-3cm. Ảnh hưởng mực nước dâng do vỡ đập thủy điện Xepian Xenamnoy đến tận Vàm Nao (An Giang), tuy nhiên mực nước tăng lên không đáng kể, chỉ từ 0.2-2 cm”.

Là người đã có nhiều nghiên cứu về tác động thay đổi dòng chảy thượng nguồn do các hồ, đập thủy điện thượng nguồn, PGS.TS. Triệu Ánh Ngọc cũng nhận định: Vụ việc vỡ đập thủy điện Xepian Xenamnoy tại huyện Sanmanxay, tỉnh Attapeu, Lào cho thấy, các đập thủy điện thượng nguồn mặc dù tạo ra nhiều giá trị kinh tế (năng lượng) cho các quốc gia trong lưu vực Mekong tuy nhiên kèm theo đó luôn là mối hiểm họa khôn lường gây thiện hại về tính mạng và tài sản người dân trong lưu vực rất lớn, đặc biệt là vùng hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

“Hiện nay, hầu hết các quốc gia như Lào, Cam phu chia, Thái Lan đang có tham vọng khai thác điện thủy năng nhằm giúp gia tăng sản lượng điện nhằm đảm bảo an ninh năng lượng điện quốc gia và bán điện ra nước ngoài. Khai thác thủy năng với mục đích tăng sản lượng điện, điều tiết dòng chảy, cắt lũ chỉ là tính toán chủ quan, việc tính toán này chỉ đúng khi điều kiện khí hậu nằm trong kịch bản tính toán và hồ đập làm việc trong điều kiện bình thường. Khi mưa lũ vượt tần suất tính toán hoặc sự cố vận hành hồ đập bất thường như trường hợp vỡ đập Xepian Xenamnoy, Lào thì không nằm trong tính toán”, ông Ngọc nêu.

Nhiều ngôi làng bị chìm trong biển nước sau sự cố vỡ đập tại Lào (Ảnh: BBC)

Ông Ngọc cũng cho rằng, qua sự cố này, không chỉ Lào mà các quốc gia khai thác thủy năng trên lưu vực Mekong cần phải cảnh giác, tuân thủ đúng quy trình vận hành xã lũ, đặc biệt phải có các dự báo trong các điều kiện cực đoan. Đồng thời cần phải có các tiêu chuẩn đánh giá an toàn đập hàng năm để hạn chế các nguy cơ rủ ro vỡ đập như vừa rồi.

Nguồn: Báo Dân trí